Hiển thị các bài đăng có nhãn habubak. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn habubak. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

Khả năng chống "sốc" tài chính của các thị trường mới nổi

Trong 2 thập niên qua, các nền kinh tế mới nổi ở Mỹ Latinh và châu Á đã hội nhập sâu rộng vào các hệ thống tài chính của phần còn lại của thế giới, nhưng chính các thị trường này lại ít bị tổn thương hơn khi phải đối mặt với những cú sốc tài chính toàn cầu. 


Bài liên quan : <<  Ngân hàng habubank vượt qua khó khăn  >>
                         <<  Ngân hàng habubank phát triển mạnh  >> 

Một nghiên cứu của các chuyên tại Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho thấy mặc dù có sự hội nhập tài chính khá nhanh trong vòng 20 năm qua, nhưng việc củng cố vững chắc các nguyên tắc cơ bản trong quản lý kinh tế vĩ mô ở hầu hết các nền kinh tế thị trường đang nổi lên (EME) đã làm cho họ ít bị tổn thương bởi các cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra trong những năm qua. Đặc biệt là trong cuộc khủng hoảng hiện nay tại châu Âu, nơi "hội nhập tài chính quá cao", kết hợp với những nguyên tắc quản lý kinh tế tồi tệ, điển hình là vấn đề nợ công cao trong hơn 10 năm qua.
Camilo Tovar, chuyên gia cao cấp của IMF, chuyên nghiên cứu về thị trường mới nổi và là một trong những tác giả của nghiên cứu, nói rằng: "Khi những cú sốc tài chính toàn cầu xảy ra, hội nhập tài chính sẽ khiến các quốc gia có chế độ tỉ giá hối đoái cố định phải chịu tác động lớn hơn nhiều so với những nước có chế độ tỉ giá hối đoái linh hoạt hơn. Tỷ giá hối đoái không linh hoạt có thể che lấp những thông tin cần thiết giúp thị trường hoạt động đúng hướng và có thể làm phát sinh các vấn đề kinh tế đột ngột.
Một quốc gia có những nguyên tắc cơ bản vững chắc trong quản lý kinh tế vĩ mô ít có khả năng nhìn thấy những luồng vốn lớn trong giai đoạn của cuộc khủng hoảng. Nhưng vấn đề quan trọng đó là sự linh hoạt để đưa ra các chính sách trái với chu kỳ trong phạm vi cho phép của các nguyên tắc quản lý, chẳng hạn như hạ thấp lãi suất, sử dụng chính sách tài khóa để ổn định nhu cầu trong nước hoặc cho phép giảm tỷ giá hối đoái.
Kinh nghiệm cho thấy, các quốc gia hội nhập với nguyên tắc cơ bản mạnh mẽ nhưng lại có chế độ tỷ giá hối đoái đặc biệt linh hoạt đã giữ được tình trạng tốt hơn so với các nước chưa hội nhập trong những cú sốc tài chính.
Các chuyên gia nghiên cứu của IMF đã sử dụng thước đo hội nhập tài chính của 40 nền kinh tế thị trường mới nổi trong giai đoạn từ năm 1990-2010 (đặc biệt là từ năm 1997), thông qua việc cân đối tài sản và nợ nước ngoài với tổng sản phẩm quốc nội của từng nước. Kết quả là các nền kinh tế của Mỹ Latinh và châu Á đã có sự cải thiện rõ nét về khả năng phục hồi sau những cú sốc tài chính, nhanh hơn nhiều so với các quốc gia ở châu Âu.
Các cú sốc tài chính tương sự như "sự kiện phá sản của Lehman Brothers" (tập đoàn chứng khoán và ngân hàng đầu tư lớn thứ 4 của Mỹ) có thể gây tổn thất cho các nền kinh tế ở châu Á và Mỹ Latinh khoảng 1,25% GDP, so với 2,25% trong nền kinh tế mới nổi của châu Âu, chẳng hạn như Hungary, Latvia và Estonia, ngay cả sau khi các nước này đã kiểm soát được tình hình.
Các chuyên gia nhấn mạnh rằng mặc dù các thị trường mới nổi vẫn sẽ bị tổn thương trước những cú sốc.
Tuy nhiên, trong khi hội nhập tài chính họ đã có sự kết hợp giữa sức mạnh kinh tế với một chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt và điều đó đã mang lại lợi ích nhiều hơn là một gánh nặng đối với các nền kinh tế này trong thời điểm khó khăn.

Thứ Tư, 25 tháng 7, 2012

Các ngân hàng bất ngờ đẩy giá USD vượt 20.900 đồng

So với hôm qua, giá bán USD tại Vietcombank hiện cao hơn 45 đồng, của BIDV là 25 đồng và Eximbank là 30 đồng. 


Bài liên quan : <<  Habubank nợ nần đã được khắc phục  >>
                         <<  Habubank nợ nần là sai  >>
 

Sau khi tăng giá USD từ 5 - 20 đồng trong buổi sáng nay so với hôm qua, các ngân hàng thương mại bất ngờ nâng tiếp giá USD trong buổi chiều.
Tại Vietcombank, giá mua bán USD chiều nay lên tới 20.860 - 20.910 đồng, tăng 15 đồng mua vào và 30 đồng bán ra so với cuối buổi sáng. Tổng cộng từ sáng tới giờ, nhà băng này tăng 30 đồng giá mua và 45 đồng giá bán USD.
Tại BIDV, tỷ giá USD hiện niêm yết ở mức 20.830 - 20.900 đồng, cao hơn buổi sáng 20 đồng bán ra và mua vào, nâng tổng mức tăng từ sáng tới giờ lên lần lượt 15 - 25 đồng.
Eximbank cũng tăng giá bán USD thêm 30 đồng như Vietcombank niêm yết giá USD tại 20.845 – 20.885 đồng (mua vào - bán ra), cao hơn sáng qua 15 đồng.
Giá USD tại ngân hàng BIDV là 20.820 – 20.880 đồng, của Vietinbank là 20.825 – 20.880 đồng, cùng tăng lần lượt 5 đồng mua vào và 10 đồng bán ra so với hôm qua.
Eximbank mạnh tay nâng giá mua USD thêm 20 đồng lên 20.830 đồng và tăng giá bán 10 đồng lên ngang mức của các ngân hàng thương mại khác.
Tỷ giá USD tại VIB trong khi đó niêm yết ở mức 20.830 – 20.890 đồng, tại VPBank là 20.810 – 20.880 đồng.
Ngoài thị trường tự do, giá mua bán USD tại các điểm giao dịch ngoại tệ được phép kinh doanh, trong khi đó lại đi ngược chiều diễn biến USD trong ngân hàng, với giá bán ra giảm 10 đồng và mua vào thấp hơn hôm qua 20 đồng. Hiện USD được mua bán phổ biến ở mức 20.860 – 20.880 đồng, có nơi mua vào chỉ 20.850 đồng.
Hôm qua, ngân hàng ANZ vừa công bố báo cáo dự báo về tình hình kinh tế Việt Nam nửa cuối năm 2012. Theo đó, ngân hàng này dự đoán, cán cân thương mại của Việt Nam sẽ trở lại mức thâm hụt trong 6 tháng cuối năm nhờ các chính sách nới lỏng tiền tệ phát huy tác dụng, thúc đẩy nhu cầu nội địa và nhập khẩu, nên tỷ giá sẽ tăng khoảng 2% và tiến sát mức 21.500 đồng.

Dự báo này của ANZ cũng trùng với dự báo của HSBC. Tuần trước, ngân hàng này cho rằng tỷ giá sẽ xoay quanh mức 20.850 đồng trong quý 3 và tăng trong quý 4 nhờ nhu cầu cao nhưng cũng sẽ khó vượt mức 21.500 đồng.

Ở thị trường vàng, giá vàng biến động khá nhẹ trong những ngày gần đây, khi mức tăng, giảm trong phiên chưa quá 100 nghìn đồng/lượng. Hôm nay, vàng SJC được các nhà vàng mua vào bán ra phổ biến ở mức 41,6 – 41,7 triệu đồng/lượng. Vàng thế giới cũng chỉ dao động trong biên độ hẹp, với vàng giao ngay hiện là 1.575 USD/ounce. Quy đổi theo tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng thương mại, cộng thêm thuế và phí liên quan, giá vàng trong nước hôm nay cao hơn thế giới 1,8 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Habubank

Thứ Ba, 17 tháng 7, 2012

Ngân hàng ấm ức với “lệnh” hành chính

Từ 16/7, các ngân hàng phải thực hiện chủ trương hạ lãi suất cho vay với các khoản vay cũ xuống 15%/năm. Thế nhưng, hiệu lực của biện pháp hành chính này vẫn phải chờ câu trả lời từ thực tế. 


                         <<  Ngân hàng Habubank tự tin xóa nợ  >>
 

Đồng thuận giảm, không đồng ý cào bằng
 
Theo “lệnh” của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Bình, chậm nhất đến ngày 15/7, các ngân hàng thương mại ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chủ trương hạ lãi suất cho vay với các khoản vay cũ xuống 15%/năm. Thế nhưng, cho đến cuối tuần qua, nhiều ngân hàng thương mại vẫn cho hay, họ chưa thể triển khai chủ trương này, do chưa nhận được văn bản hướng dẫn chi tiết của NHNN.


Lãnh đạo một ngân hàng thương mại cổ phần cho hay: “Hạ lãi suất là yêu cầu tất yếu khách quan, nhưng thực hiện bằng biện pháp hành chính là ‘cực chẳng đã’ và sẽ phải trả giá. Việc NHNN có những động thái can thiệp, như ép các ngân hàng thương mại hạ lãi suất, cơ cấu lại nợ, nới tín dụng phi sản xuất… thực chất đang khuyến khích ngân hàng đẩy mạnh cho vay dưới chuẩn. Hậu quả là, vài năm tới, một khối nợ xấu mới sẽ phát sinh”.


Trên thực tế, yêu cầu giảm lãi suất các khoản vay cũ xuống 15%/năm của NHNN không phải là quá khó khăn với các ngân hàng. TS. Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc NHNN nhận xét: “Trần lãi suất huy động 12%/năm đã áp dụng được 3 tháng, độ trễ như vậy là đã đủ cho ngân hàng giảm lãi suất cho vay xuống 15%/năm”.


Tuy nhiên, việc giảm lãi suất với tất cả các khoản vay, tất cả khách hàng, theo các chuyên gia kinh tế và các ngân hàng, là không phù hợp.


Ông Nguyễn Đức Hưởng, Phó chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Bưu Điện Liên Việt phân trần: “Giảm lãi suất là cần thiết, không chỉ để cứu doanh nghiệp, mà còn để cứu ngân hàng. Tuy nhiên, cào bằng lãi suất tất cả các khoản vay cũ xuống 15%/năm sẽ rất khó khăn với các ngân hàng nhỏ”.


Lãnh đạo nhiều ngân hàng còn cho rằng, lãi suất cho vay 15%/năm với khoản vay cũ chỉ nên áp dụng với 4 lĩnh vực ưu tiên, bởi nếu áp dụng rộng rãi, sẽ không phản ánh đúng chi phí vốn, mức độ rủi ro của từng khoản vay, nhất là những khoản vay tiêu dùng, vay tín chấp.


“Buộc ngân hàng hạ lãi suất cho vay xuống 15%/năm với tất cả khoản vay cũ, tất cả đối tượng là phi thị trường. Không thể cào bằng như vậy, vì giá vốn phải phản ánh được mức độ rủi ro. Khoản vay có độ rủi ro cao, thì đương nhiên lãi suất sẽ phải cao”, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu nhận xét.


Về động thái tiên phong hạ lãi suất các khoản vay cũ xuống 15%/năm của một số ngân hàng lớn, nhất là ngân hàng thương mại nhà nước, nhiều ngân hàng cũng cho rằng, đây là điều dễ hiểu, bởi ngoài yếu tố thanh khoản dồi dào, các ngân hàng này còn được hưởng nhiều đặc quyền, đặc lợi. Còn với những ngân hàng thương mại cổ phần của các ông chủ tư nhân, việc giảm lãi sẽ được cân nhắc một cách thận trọng, không chỉ vì quyền lợi của cổ đông, mà còn vì sự tồn tại của ngân hàng. Hơn nữa, trước đây, đa phần ngân hàng nhỏ đều vượt trần lãi suất huy động, hiện lượng vốn huy động với giá cao vẫn chưa được giải ngân hết. Vì vậy, nếu buộc phải sửa lại các hợp đồng vay cũ, các ngân hàng này hoặc phải chịu thua lỗ, hoặc sẽ tìm cách đưa ra các loại chi phí khác ngoài lãi suất để bù đắp.


Nợ cũ cũng có hai loại
Từ khi NHNN yêu cầu hạ lãi suất với các khoản vay cũ xuống dưới 15%/năm, một số ý kiến đã đề nghị, NHNN phải có yêu cầu bắt buộc các ngân hàng thương mại hạ lãi suất các khoản vay cũ xuống dưới 15%/năm.


Tuy nhiên, có khả năng, yêu cầu giảm lãi suất này sẽ không bắt buộc, mà chỉ dừng ở chủ trương, khuyến khích thực hiện, bởi NHNN không có cơ sở pháp lý để buộc các ngân hàng thương mại phải thay đổi hợp đồng cho vay trước đây. Mặc dù vậy, hiệu lực của biện pháp này khá cao, bởi ngân hàng nào không thực hiện, sẽ bị liệt vào danh sách “sổ đen” của NHNN.


Tất nhiên, hiệu quả của biện pháp hành chính trên sẽ không bền vững, nếu thiếu thiện chí và sự chuẩn bị từ ngân hàng, nhất là trong rà soát các khoản vay, đối tượng vay.


Ông Trịnh Quang Anh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế (Ngân hàng TMCP Hàng Hải - Maritime Bank) phân tích, các khoản vay cũ có thể phân thành 2 loại. Với loại “tốt”, các ngân hàng nên áp dụng lãi suất cho vay mới để “dưỡng” và giữ khách hàng. Việc tiếp tục áp dụng lãi suất cao với các doanh nghiệp tốt, sẽ khiến ngân hàng mất khách. Còn với những khoản vay xấu, dù có giảm lãi suất, nếu doanh nghiệp không có khả năng chi trả, thì việc giảm lãi suất không có nhiều ý nghĩa.


Lãnh đạo một ngân hàng thừa nhận, với những khoản vay cũ khó có khả năng đòi nợ, ngân hàng này thà để nguyên lãi suất cũ để có lợi nhuận “ảo” làm đẹp sổ sách, chờ đến ngày phát mãi tài sản, còn hơn là giảm lãi suất mà vẫn không thu được nợ.